welcome to LÊ THỊ HỒNG GẤM
  • Tiếng Việt
  • English
  • 中文
  • Français
  • 日本語
  • 한국어
  • Español
  • Русский
  • Deutsch
  • ไทย
  • ລາວ
  • हिन्दी
  • Português

hoi thi tim hieu hien phap

Cập nhật : 9:48 Thứ sáu, 8/5/2015
Lượt đọc : 33
Ngày ban hành: 8/5/2015Ngày hiệu lực: 8/5/2015
Trích yếu: Hội thi tìm hiểu hiến pháp
Nội dung:

 

 

 

 

 

HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN HỮU CHƯƠNG

ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TH LÊ THỊ HỒNG GẤM, PHƯỜNG 10, QUẬN TÂN BÌNH

NGÀY THÁNG NĂM SINH : 23/11/1961

GIỚI TÍNH : NAM

DÂN TỘC ; KINH

NƠI CÔNG TÁC : 624/21 TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ THỊ HỒNG GẤM, PHƯỜNG 10, QUẬN TÂN BÌNH


 

Hội thi tìm hiểu hiến pháp

Câu 1:  Từ năm 1945, khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta đã có 04 bản Hiến pháp:

-         Hiến pháp năm 1946 , được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09 tháng 11 năm 1946.

-         Hiến pháp năm 1959, được Quốc hội khóa 1 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 31tháng 12 năm 1959 .

-         Hiến pháp 1980, được Quốc hội khóa 6, kỳ họp thứ 7 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/12/1980 .

-         Hiến pháp năm 1992, được Quốc hội khóa 8, kỳ họp thứ 11 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/04/1992.

-         Ngày 25/12/2001 sửa đổi , bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 , được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 10 thông qua.

-         Hiến pháp năm 2013, được Quốc hội khóa 136, kỳ họp thứ 6 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013

Câu 2 : Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 có hiệu lực từ ngày01/01/2014 . So với Hiến pháp năm 1992 ( được sửa đổi , bổ sung năm 2001) có :

7 điều giữ nguyên (điều 1,23,49,86,87,91,97), 101 điều sửa đổi, bổ sung,12 điều mới (điều 19,34,41,42,43,55,63,78,111,112,117,118)

Tôi tâm đắc nhất: Điều 43 : Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.

Theo cách hiểu của tôi, khái niệm “môi trường” được quy định tại Điều 43 của Hiến pháp chính là môi trường sống của con người, được định nghĩa bởi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. (Khoản 1, Điều 3).

Trong những năm qua cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đã nảy sinh hàng loạt những hệ lụy khác nhau ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, như ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước... Các nguồn ô nhiễm này chủ yếu có nguồn gốc từ các cơ sở chế biến, gia công, sản xuất công nghiệp, nhưng không thực hiện đúng quy định về xử lý chất thải, đang từng ngày, từng giờ góp phần hủy hoại môi trường sống của chúng ta. Điều đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được hưởng thụ môi trường sống trong lành của mọi người.

Chắc hẳn trong chúng ta không ai không biết đến vụ công ty VEDAN Việt Nam (đóng  tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) xả nước thải chưa qua xử lý xuống dòng sông Thị Vải bị phát hiện năm 2008 gây thiệt hại và tác hại đến sức khỏe và tài sản của người dân địa phương khó có thể đánh giá hết được; hay vụ Công ty Cổ phần Nicotex Thanh Thái (đóng trên địa bàn xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa) chôn lấp thuốc trừ sâu độc hại xuống lòng đất bị phát hiện tháng 8/2013 làm ô nhiễm đất, nguồn nước... là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều người dân xung quanh mắc các bệnh ung thư, thần kinh, sinh con bị dị dạng... gây bức xúc trong nhân dân. Đó chỉ là hai trong số hàng trăm vụ gây ô nhiễm môi trường bị phát hiện trên phạm vi cả nước trong thời gian qua. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra là chúng ta phải nhận thức đầy đủ, có biện pháp kịp thời và hành động không chậm trễ để bảo vệ môi trường sống trong giai đoạn hiện nay và cho cả mai sau con cháu chúng ta. Đây quả là một bài toán khó đòi hỏi sự chung tay giải quyết của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi công dân.

Như vậy, có thể nói trước Hiến pháp năm 2013, vấn đề bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, việc ghi nhận này còn ở dạng nguyên tắc chung về trách nhiệm từ phía các cơ quan, tổ chức của Nhà nước mà chưa đề ra vấn đề quy định quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ bản của công dân như trong Hiến pháp năm 2013. Phải chăng quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được hiến định cụ thể mà trong thời gian qua nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn? Môi trường sống vẫn bị ô nhiễm, hủy hoại từng ngày đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân ở nhiều nơi, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội lâu dài của đất nước.

Nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế nêu trên, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có sự tiếp thu, chọn lọc những quy định phù hợp của pháp luật quốc tế, đồng thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước. Với quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” là một bước tiến lớn thể hiện việc mở rộng và phát triển quyền con người, phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới gần 30 năm qua ở nước ta đồng thời thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, thừa nhận vấn đề bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Để mọi người thực hiện quyền của mình, Hiến pháp năm 2013 cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành văn bản pháp luật để có cơ sở pháp lý cho mọi người và công dân thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình.

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, để quyền được sống trong môi trường trong lành được phát huy trong thực tế, tại Kỳ họp thứ VII Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường 2014 với rất nhiều những quy định mới nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, đảm bảo mọi người dân được sống trong môi trường trong lành là một sự khẳng định rõ nhất của nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người.

Xin mọi người hãy cùng nhau chung tay bảo vệ môi trường! Vì bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống trong môi trường trong lành của chúng ta!  

Câu 3: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…’’

Thật vậy, trong một đất nước, một quốc gia, một dân tộc người dân là yếu tố quan trọng nhất, là nhân tố quyết định mọi hoạt động của một dân tộc. Vì thế, để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, theo tôi, ta cần thực hiện theo các cách thức sau :

      Nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân. Từ Hiến pháp năm 1946 đến nay đều thống nhất quan điểm đó. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân... do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó được quy định thống nhất, xuyên suốt trong  toàn bộ Hiến pháp 2013:

          Có thể thấy ngay từ Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: "... Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ trách nhiệm, vai trò chủ thể của nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp.

          Đặc biệt, trong toàn bộ Hiến pháp 2013 từ “Nhân dân” luôn luôn được viết hoa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước ta từ Nhân dân được viết hoa. Đó không chỉ đơn thuần là thay đổi về kỹ thuật lập Hiến mà là sự thay đổi trong nhận thức, đề cao hơn nữa vai trò của nhân dân- chủ thể quan trọng, duy nhất của quyền lực nhà nước.

          Hiến pháp không chỉ quy định Nhân dân là chủ thể của Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà còn quy định phương cách Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của mình. Điều 6 Hiến pháp 2013 ghi: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.”

          1. Dân chủ trực tiếp

          Dân chủ trực tiếp là việc Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước. Tức là Nhân dân thể hiện một cách trực tiếp ý chí của mình (với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước) về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua cá nhân hay tổ chức thay mặt mình và ý chí đó có ý nghĩa bắt buộc phải thi hành. Hình thức biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, HĐND, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trưng cầu dân ý.

          - Ứng cử, bầu cử: Theo Điều 27  Hiến pháp thì: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.” Và trong Hiến pháp và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu HĐND các cấp đều quy định những nguyên tắc bầu cử là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nguyên tắc này đã thể hiện tính dân chủ của nhà nước ta. Và đây là một trong những việc làm nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp.

  - Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở: Hiện nay thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện theo Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh đã quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

Như vậy thì thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cũng là 1 hình thức dân chủ trực tiếp. Đây là hình thức chủ yếu trong dân chủ trực tiếp hiện nay ở nước ta.

          - Trưng cầu dân ý: Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 quy định cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân là Quốc hội; cơ quan tổ chức việc trưng cầu ý dân là Ủy ban thường vụ Quốc hội và quy định hình thức thể hiện của việc trưng cầu là biểu quyết. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 chưa quy định vấn đề nào cần phải trưng cầu ý dân; điều kiện và cách thức của việc trưng cầu ý dân; giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu… Như vậy, rõ ràng đây là những điểm hạn chế so với Hiến pháp năm 1946 (Điều thứ 21 Hiến pháp năm 1946 quy định: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia theo Điều thứ 32 và 70. Điều thứ 32 quy định: Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định. Điều này cho thấy Hiến pháp năm 1946 có những quy định cụ thể hơn Hiến pháp năm 1992 về việc để nhân dân trực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nướcĐiều 29  Hiến pháp năm 2013 quy định:Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 70 Hiến pháp năm 2013: “Quốc Hội có quyền  quyết định trưng cầu ý dân.

          Chính vì tầm quan trọng và ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân mà trong Hiến pháp 2013 đã đặt vấn đề trưng cầu ý dân ở vị trí quan trọng hơn so với các quy định của Hiến pháp năm 1992 hiện hành.  Nếu như trước đây quy định công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý nằm trong nội dung cuối cùng của Điều 53 Hiến pháp năm 1992 … thì nay Hiến pháp 2013 đã tách quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân thành một điều luật riêng và chỉ quy định duy nhất quyền này trong một điều luật (Điều 29). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 cũng quy định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định (Điều 70) và Điều 120 Hiến pháp đã nêu rõ một vấn đề có thể phải trưng cầu ý dân là Hiến pháp. Đây có thể coi là một bước tiến lớn của Hiến pháp 2013, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ xác định Quốc hội có quyền quyết định trưng cầu ý dân (Điều 84) nhưng chưa xác định vấn đề gì cần phải đưa ra trưng cầu ý dân.

          Như vậy, trưng cầu dân ý sẽ  mở ra hình thức dân chủ trực tiếp ở mức cao. Thực tiễn cho thấy, mỗi công dân đều có căn cứ riêng và đứng từ góc độ riêng để phân tích, đánh giá và quyết định. Vì vậy, để việc thực hiện quyền lực trực tiếp của nhân dân ở nước ta tiếp tục “mở” hơn nữa, thì cần luật hóa vấn đề này.

          Hiện nay, các cuộc đối thoại trực tiếp của nhân dân với cơ quan Nhà nước hiện nay cũng là hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp như các cuộc đối thoại trực tuyến giữa lãnh đạo đảng, nhà nước với nhân dân…….

          Ưu điểm của hình thức dân chủ trực tiếp: Là Nhân dân trực tiếp quyết định, phản ảnh đúng ý chí, nguyện vọng của mình.  

           Hạn chế của hình thức này: Là những vấn đề mà Nhân dân trực tiếp quyết định không nhiều vì điều kiện không cho phép.

          Dân chủ trực tiếp được mở rộng đến đâu còn phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí, nhận thức chính trị, trình độ pháp lý của nhân dân...của một nước. Ở nước ta do trải qua cuộc chiến tranh kéo dài và hiện nay đang trong quá trình xây dựng nên dân chủ trực tiếp trên thực tế mới thực hiện mức độ nhất định. Hiến pháp năm 1946, tại Ðiều 21 có quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia..." và Ðiều 32 quy định: "Những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý...". Các Hiến pháp 1959, 1980, 1992  và 2013 đều có đề cập đến việc trưng cầu dân ý. Tuy nhiên đến nay chúng ta chưa tổ chức được cuộc trưng cầu dân ý nào.

          Để hiện thực hóa quy định nói trên, và rút kinh nghiệm trước đây do thiếu cơ chế cụ thể nên quy định của Hiến pháp về Trưng cầu dân ý - Một nội dung của dân chủ trực tiếp - chưa được thực hiện. Lần này, sau khi có Hiến pháp năm 2013 Quốc hội khóa XIII đã đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã giao cho các cơ quan chuẩn bị xây dựng dự án luật trưng cầu dân ý và dự kiến sẽ trình ra Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp giữa năm 2015.

 

          2. Dân chủ đại diện

          Dân chủ đại diện là hình thức Nhân dân thông qua các cơ quan nhà nước, các cá nhân được Nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của Nhân dân. Ở nước ta, cơ quan trực tiếp được nhân dân giao quyền là Quốc hội và Hội đồng nhân dân. 2 cơ quan này do nhân dân trực tiếp bầu ra.

          Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội. Chính vì vậy, Quốc hội có có những nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn như: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; Thực hiện quyền giám sát tối cao; Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;  Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, …. ; Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Quyết định đại xá; Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; Quyết định trưng cầu ý dân…..

Tin cùng chuyên mục