
| Ngày ban hành: 8/5/2015 | Ngày hiệu lực: 8/5/2015 |
| Trích yếu: Hội thi tìm hiểu hiến pháp | |
HỌ
VÀ TÊN : NGUYỄN HỮU CHƯƠNG
ĐƠN
VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TH LÊ THỊ HỒNG GẤM, PHƯỜNG 10, QUẬN TÂN BÌNH
NGÀY
THÁNG NĂM SINH : 23/11/1961
GIỚI
TÍNH : NAM
DÂN
TỘC ; KINH
NƠI
CÔNG TÁC : 624/21 TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ THỊ HỒNG GẤM, PHƯỜNG 10, QUẬN TÂN BÌNH
Hội thi tìm hiểu hiến pháp
Câu 1: Từ năm 1945,
khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta đã có 04 bản Hiến pháp:
-
Hiến pháp năm 1946 , được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09 tháng 11 năm 1946.
-
Hiến pháp năm 1959, được Quốc hội khóa
1 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 31tháng 12 năm 1959 .
-
Hiến pháp 1980, được Quốc hội khóa 6, kỳ
họp thứ 7 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/12/1980 .
-
Hiến pháp năm 1992, được Quốc hội khóa
8, kỳ họp thứ 11 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
15/04/1992.
-
Ngày 25/12/2001 sửa đổi , bổ sung một số
điều của Hiến pháp 1992 , được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 10 thông qua.
-
Hiến pháp năm 2013, được Quốc hội khóa
136, kỳ họp thứ 6 nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013
Câu 2 : Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 có hiệu lực từ ngày01/01/2014
. So với Hiến pháp năm 1992 ( được sửa đổi , bổ sung năm 2001) có :
7 điều giữ nguyên (điều
1,23,49,86,87,91,97), 101 điều sửa đổi, bổ sung,12 điều mới (điều 19,34,41,42,43,55,63,78,111,112,117,118)
Tôi tâm đắc nhất: Điều 43 : Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa
vụ bảo vệ môi trường”.
Theo cách hiểu của tôi,
khái niệm “môi trường” được quy định
tại Điều 43 của Hiến pháp chính là môi trường sống của con người, được định
nghĩa bởi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố
vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của
con người và sinh vật”. (Khoản 1, Điều 3).
Trong những năm qua cùng
với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đã nảy sinh hàng loạt những hệ
lụy khác nhau ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, như ô nhiễm đất,
ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước... Các nguồn ô nhiễm này chủ yếu có nguồn
gốc từ các cơ sở chế biến, gia công, sản xuất công nghiệp, nhưng không thực
hiện đúng quy định về xử lý chất thải, đang từng ngày, từng giờ góp phần hủy
hoại môi trường sống của chúng ta. Điều đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được
hưởng thụ môi trường sống trong lành của mọi người.
Chắc hẳn trong chúng ta
không ai không biết đến vụ công ty VEDAN Việt Nam (đóng tại xã Phước Thái, huyện Long
Thành, tỉnh Đồng Nai) xả nước
thải chưa qua xử lý xuống dòng sông Thị Vải bị phát hiện năm 2008 gây thiệt hại
và tác hại đến sức khỏe và tài sản của người dân địa phương khó có thể đánh giá
hết được; hay vụ Công ty Cổ phần Nicotex Thanh Thái (đóng trên địa bàn xã Cẩm Vân,
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa) chôn
lấp thuốc trừ sâu độc hại xuống lòng đất bị phát hiện tháng 8/2013 làm ô nhiễm
đất, nguồn nước... là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều người dân xung quanh
mắc các bệnh ung thư, thần kinh, sinh con bị dị dạng... gây bức xúc trong nhân
dân. Đó chỉ là hai trong số hàng trăm vụ gây ô nhiễm môi trường bị phát hiện
trên phạm vi cả nước trong thời gian qua. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra là
chúng ta phải nhận thức đầy đủ, có biện pháp kịp thời và hành động không chậm
trễ để bảo vệ môi trường sống trong giai đoạn hiện nay và cho cả mai sau con
cháu chúng ta. Đây quả là một bài toán khó đòi hỏi sự chung tay giải quyết của
cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi
công dân.
Như vậy, có thể nói trước
Hiến pháp năm 2013, vấn đề bảo vệ môi trường đã được ghi nhận trong Hiến pháp
năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, việc ghi nhận này còn ở dạng nguyên
tắc chung về trách nhiệm từ phía các cơ quan, tổ chức của Nhà nước mà chưa đề
ra vấn đề quy định quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền cơ
bản của công dân như trong Hiến pháp năm 2013. Phải chăng quyền được sống trong
môi trường trong lành chưa được hiến định cụ thể mà trong thời gian qua nhận
thức và hành động về bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn?
Môi trường sống vẫn bị ô nhiễm, hủy hoại từng ngày đã tác động không nhỏ đến
đời sống của người dân ở nhiều nơi, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình phát
triển kinh tế xã hội lâu dài của đất nước.
Nhằm khắc phục những tồn
tại hạn chế nêu trên, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có sự tiếp thu, chọn lọc
những quy định phù hợp của pháp luật quốc tế, đồng thời thể chế hóa quan điểm
của Đảng về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng
của sự phát triển đất nước. Với quy định: “Mọi người có quyền được sống trong
môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” là một bước tiến lớn
thể hiện việc mở rộng và phát triển quyền con người, phản ảnh kết quả của quá
trình đổi mới gần 30 năm qua ở nước ta đồng thời thể hiện sự quan tâm, trách
nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công
dân, thừa nhận vấn đề bảo vệ môi trường chính là bảo vệ quyền con người, nâng
cao chất lượng cuộc sống của con người. Để mọi người thực hiện quyền của mình,
Hiến pháp năm 2013 cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành văn
bản pháp luật để có cơ sở pháp lý cho mọi người và công dân thực hiện đầy đủ
các quyền, nghĩa vụ của mình.
Thể chế hóa quy định của
Hiến pháp, để quyền được sống trong môi trường trong lành được phát huy trong
thực tế, tại Kỳ họp thứ VII Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi
trường 2014 với rất nhiều những quy định mới nhằm đảm bảo sự phát triển bền
vững, đảm bảo mọi người dân được sống trong môi trường trong lành là một sự
khẳng định rõ nhất của nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người.
Xin mọi người hãy cùng
nhau chung tay bảo vệ môi trường! Vì bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc
sống trong môi trường trong lành của chúng ta!
Câu 3: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân…’’
Thật
vậy, trong một đất nước, một quốc gia, một dân tộc người dân là yếu tố quan trọng
nhất, là nhân tố quyết định mọi hoạt động của một dân tộc. Vì thế, để nhân dân
thực hiện quyền lực nhà nước, theo tôi, ta cần thực hiện theo các cách thức sau
:
Nhà nước ta là nhà nước của
Dân, do Dân và vì Dân. Từ Hiến pháp năm 1946 đến nay đều thống nhất quan điểm
đó. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân... do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức”. Điều đó được
quy định thống nhất, xuyên suốt trong
toàn bộ Hiến pháp 2013:
Có
thể thấy ngay từ Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể
hiện: "... Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ
trách nhiệm, vai trò chủ thể của nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo
vệ Hiến pháp.
Đặc biệt, trong toàn bộ Hiến pháp 2013
từ “Nhân dân” luôn luôn được viết hoa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến
của nước ta từ Nhân dân được viết hoa. Đó không chỉ đơn thuần là thay đổi về kỹ
thuật lập Hiến mà là sự thay đổi trong nhận thức, đề cao hơn nữa vai trò của
nhân dân- chủ thể quan trọng, duy nhất của quyền lực nhà nước.
Hiến pháp không chỉ quy định Nhân dân là chủ thể của Nhà nước, tất cả quyền
lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà còn quy định phương cách Nhân dân thực hiện
quyền lực Nhà nước của mình. Điều 6 Hiến pháp 2013 ghi: "Nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua
Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.”
1. Dân chủ trực tiếp
Dân
chủ trực tiếp là việc Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước.
Tức là Nhân dân thể hiện một cách trực tiếp ý chí của mình (với tư cách là chủ
thể quyền lực nhà nước) về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua cá nhân hay
tổ chức thay mặt mình và ý chí đó có ý nghĩa bắt buộc phải thi hành. Hình thức
biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, HĐND, thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở, trưng cầu dân ý.
- Ứng cử, bầu cử: Theo Điều
27 Hiến pháp thì:
“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở
lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền
này do luật định.” Và trong Hiến pháp và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu
cử đại biểu HĐND các cấp đều quy định những nguyên tắc bầu cử là phổ thông,
bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nguyên tắc này đã thể hiện tính dân chủ của
nhà nước ta. Và đây là một trong những việc làm nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước bằng dân chủ trực tiếp.
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:
Hiện nay thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện theo Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh đã quy định những nội dung phải công khai để
nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân
dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung
nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum,
sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi
chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân
dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.
Như vậy thì thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở cũng là 1 hình thức dân chủ
trực tiếp. Đây là hình thức chủ yếu trong dân chủ trực tiếp hiện nay ở nước ta.
- Trưng
cầu dân ý: Ở Việt Nam, Hiến pháp
năm 1992 quy định cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân là Quốc
hội; cơ quan tổ chức việc trưng cầu ý dân là Ủy ban thường vụ Quốc hội và quy định
hình thức thể hiện của việc trưng cầu là biểu quyết. Tuy nhiên, Hiến pháp năm
1992 chưa quy định vấn đề nào cần phải trưng cầu ý dân; điều kiện và cách thức
của việc trưng cầu ý dân; giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu… Như vậy, rõ
ràng đây là những điểm hạn chế so với Hiến pháp năm 1946 (Điều thứ 21 Hiến pháp
năm 1946 quy định: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc
quan hệ đến vận mệnh quốc gia theo Điều thứ 32 và 70. Điều thứ 32 quy định: Những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần
ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định. Điều
này cho thấy Hiến pháp năm 1946 có những quy định cụ thể hơn Hiến pháp năm 1992
về việc để nhân dân trực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Điều 29 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công
dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu
ý dân.”
Điều 70 Hiến pháp năm 2013: “Quốc Hội có quyền quyết định trưng cầu ý dân.”
Chính
vì tầm quan trọng và ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân mà trong Hiến pháp 2013 đã đặt vấn đề trưng cầu ý dân ở vị
trí quan trọng hơn so với các quy định của Hiến pháp năm 1992 hiện hành. Nếu như trước đây quy định công dân có quyền biểu quyết khi Nhà
nước tổ chức trưng cầu dân ý nằm trong nội dung cuối cùng của Điều 53 Hiến pháp
năm 1992 … thì nay Hiến pháp 2013 đã tách quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý
dân thành một điều luật riêng và chỉ quy định duy nhất quyền này trong một điều
luật (Điều 29).
Đồng thời, Hiến
pháp năm 2013 cũng quy định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định (Điều 70) và Điều 120 Hiến pháp đã nêu rõ một vấn đề có thể phải
trưng cầu ý dân là Hiến pháp. Đây có thể coi là một bước tiến lớn của Hiến pháp
2013, bởi vì Hiến
pháp năm 1992 chỉ xác định Quốc hội có quyền quyết định trưng cầu ý dân (Điều
84) nhưng chưa xác định vấn đề gì cần phải đưa ra trưng cầu ý dân.
Như vậy, trưng cầu dân ý sẽ mở ra hình thức dân chủ trực tiếp ở mức cao.
Thực tiễn cho thấy, mỗi công dân đều có căn cứ riêng và đứng từ góc độ riêng để
phân tích, đánh giá và quyết định. Vì vậy, để việc thực hiện quyền lực trực tiếp
của nhân dân ở nước ta tiếp tục “mở” hơn nữa, thì cần luật hóa vấn đề này.
Hiện
nay, các cuộc đối thoại trực tiếp của nhân
dân với cơ quan Nhà nước hiện nay cũng là hình thức biểu hiện của dân chủ trực
tiếp như các cuộc đối thoại
trực tuyến giữa lãnh đạo đảng, nhà nước với nhân dân…….
Ưu điểm của hình thức dân chủ trực tiếp: Là Nhân dân trực tiếp quyết định, phản ảnh đúng ý chí,
nguyện vọng của mình.
Hạn
chế của hình thức này: Là những vấn đề mà Nhân dân trực tiếp quyết định không nhiều
vì điều kiện không cho phép.
Dân chủ trực tiếp được mở rộng đến đâu còn phụ thuộc vào điều kiện chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí, nhận thức chính trị, trình độ pháp
lý của nhân dân...của một nước. Ở nước ta do trải qua cuộc chiến tranh kéo dài
và hiện nay đang trong quá trình xây dựng nên dân chủ trực tiếp trên thực tế mới
thực hiện mức độ nhất định. Hiến pháp năm 1946, tại Ðiều 21 có quy định: "Nhân
dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc
gia..." và Ðiều 32 quy định: "Những việc có quan hệ đến vận mệnh
quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý...".
Các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 đều
có đề cập đến việc trưng cầu dân ý. Tuy nhiên đến nay chúng ta chưa tổ chức được
cuộc trưng cầu dân ý nào.
Để
hiện thực hóa quy định nói
trên, và rút kinh nghiệm trước đây do thiếu cơ chế cụ thể nên quy định của Hiến
pháp về Trưng cầu dân ý - Một nội dung của dân chủ trực tiếp - chưa được thực
hiện. Lần này, sau khi có Hiến pháp năm 2013 Quốc hội khóa XIII đã đưa vào
chương trình xây dựng pháp luật, đã giao cho các cơ quan chuẩn bị xây dựng dự
án luật trưng cầu dân ý và dự kiến
sẽ trình ra Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp giữa năm 2015.
2.
Dân chủ đại diện
Dân chủ đại diện là hình thức Nhân dân thông qua các cơ quan nhà nước, các
cá nhân được Nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của Nhân dân. Ở
nước ta, cơ quan trực tiếp được nhân dân giao quyền là Quốc hội và Hội đồng
nhân dân. 2 cơ quan này do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Điều
69 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của
quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân
ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội. Chính vì vậy, Quốc hội có có
những nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn như: Làm Hiến pháp
và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; Thực
hiện quyền giám sát tối cao; Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm
vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Quyết định chính sách dân
tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; Quy
định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước,
chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Bầu, miễn nhiệm, bãi
nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc
hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy
ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, …. ; Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người
giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Quyết định đại xá; Quyết định vấn
đề chiến tranh và hòa bình; Quyết định trưng cầu ý dân…..